Chúa Thánh Thần không chỉ ban 7 ơn mà thôi, nhưng c̣n rất nhiều ơn nữa.
Trước khi vào đề, thiết tưởng nên lưu ư hai điểm liên quan tới vấn đề dịch
thuật. Trước hết là danh xưng của Ngôi Ba Thiên Chúa: trong tiếng La-tinh
danh xưng là Spiritus
Sanctus (tiếng Pháp là Saint
Esprit, tiếng Anh là Holy
Spirit), nhưng được dịch sang tiếng Việt bằng ba từ ngữ: Chúa
Thánh Thần, Thánh Linh, Thần khí. Một cách tương tự như vậy, các từ ngữ
“ân ban, ân huệ, linh ân, đặc sủng, đoàn sủng, hồng ân, quà tặng, tặng phẩm”
chung quy cũng hàm ngụ một tư tưởng thần học là “điều được trao ban”. Do đó,
trước khi nói đến các ơn mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta, th́ cần phải
nói đến chính
Thánh Thần là Đấng được Chúa Cha ban cho
chúng ta. Điều này được nêu bật nơi nhiều tác phẩm của Tân ước, thí dụ như
Tin mừng thánh Luca (11,13), Tin mừng thánh Gioan (14,26; 15,26), và thánh
Phaolô đồng hoá Thánh Thần với t́nh yêu được đổ tràn xuống tâm hồn chúng ta
(Rm 5,5). Sau đó, người ta mới bắt đầu nghĩ tới những tác động của Thánh
Thần nơi chúng ta, và t́m cách mô tả chi tiết thành các
ân huệ mà Ngài ban cho các
tín hữu, xét theo từng cá nhân hoặc xét theo phần tử của cộng đoàn. Đó là
nguồn gốc của thần học về các ân huệ của Chúa Thánh Thần.
Có bao nhiêu ân huệ của Chúa Thánh Thần?
Không thể nào làm một bản thống kê đầy đủ được. Như vừa nói, ân huệ lớn nhất
mà thánh Phaolô ghi nhận đó là agape tức
là ḷng yêu mến, nói ở thư Rôma chương 5 câu 5. Cần móc nối tư tưởng này với
thư thứ nhất gửi Côrintô chương 13, (quen gọi là bài ca đức ái), khi thánh
Phaolô đặt agape như
chóp đỉnh của mọi thứ ân huệ. Măi đến thời Trung cổ, thánh Tôma Aquinô mới
tŕnh bày hệ thống của các ân huệ Thánh Linh dựa theo hai danh sách: một
danh sách 7 ơn Chúa Thánh Thần nhắm đến việc tăng trưởng nhân đức; c̣n một
danh sách khác dựa theo các đặc sủng hay đoàn sủng.
Danh sách 7 ơn Chúa Thánh Thần có cơ sở nào trong Kinh thánh không?
Danh sách này dựa theo một bản văn của Cựu ước, ở sách Isaia 11,1-3. Bản văn
Do thái viết như sau: “Từ gốc tổ Giessê sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ
ấy sẽ mọc lên một mầm non. Thần khí Giavê sẽ ngự trên vị này: thần khí khôn
ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mănh, thần khí hiểu biết và
kính sợ Giavê. Ḷng kính sợ Giavê làm cho Người hứng thú”. Đoạn văn này nói
đến Đấng Mêsia được Thần khí của Thiên Chúa trang bị với những đức tính của
tiền bối: khôn ngoan và trí tuệ như vua Salomon; mưu lược và hùng mạnh như
vua Đavit, hiểu biết và kính sợ Chúa như các tổ phụ. Bản văn Do thái chỉ nói
đến ba cặp thần khí (nghĩa là 6 ơn), nhưng ơn “kính sợ” được lặp lại hai
lần. Nhằm tránh sự trùng hợp, bản dịch Kinh Thánh sang tiếng Hy-lạp và
La-tinh đă sửa đổi thành “hiếu thảo”, và như vậy là đếm được bảy. Số 7 tượng
trưng cho sự sung măn. Tự nó, bản văn của ngôn sứ Isaia nói đến những đức
tính của Đức Mêsia; nhưng thánh Augustinô và thánh Grêgôriô Cả áp dụng vào
những ân huệ mà Thánh Linh ban cho các Kitô hữu.
Bảy ân huệ ấy có ích lợi ǵ cho đời sống đạo không?
Có chứ. Sách Giáo lư Hội thánh Công giáo (số 1831) viết rằng “các ơn này bổ
túc và hoàn thiện những nhân đức nơi những người lănh nhận, giúp cho người
tín hữu dễ dàng và mau mắn tuân theo các điều Thiên Chúa soi sáng”. Thực ra,
sách Giáo lư Công giáo chỉ nói cách tổng quát vậy thôi, chứ không đi sâu vào
chi tiết về bản chất của mỗi ân huệ. Thần học cổ điển đă xếp đặt các ân huệ
cách hệ thống từ trên xuống dưới và giải thích vai tṛ mỗi ân huệ như thế
này. Đứng đầu là ơn khôn
ngoan (hay cũng dịch là ơn
Cao minh) giúp chúng ta gắn bó với Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc chân thật.
Thứ hai là ơn thâm
hiểu (hay cũng dịch là ơn
hiểu biết) ban cho ta sự hiểu biết sâu sắc các chân lư đức tin. Thứ ba là ơn minh
luận (hay cũng dịch là ơn
thông minh) giúp ta phán đoán giá trị của các thụ tạo theo ánh sáng đức tin.
Thứ bốn là ơn chỉ
giáo (hay là ơn biết lo liệu)
ban cho ta biết chọn lựa con đường nào ư Chúa hơn cả và ngoan ngoăn để cho
Chúa hướng dẫn. Bốn ân huệ này thuộc về trí tuệ; ba ân huệ hợp c̣n lại thuộc
về ư chí, đó là: thứ năm, ơn sùng
hiếu(hay hiếu thảo, đạo đức) ban cho ta tôn thờ Thiên Chúa với tinh thần
con thảo và liên hệ với mọi người như con cái cùng Cha. Thứ sáu là ơn dũng
cảm (hay mạnh bạo), giúp ta
vượt thắng mọi khó khăn hoặc chịu đựng đau khổ nhờ sức mạnh Chúa ban. Thứ
bảy là ơn kính
sợ, giúp ta tránh tội và loại bỏ sự quyến luyến của cải trần thế khi nó
làm mất ḷng tôn kính mến yêu Chúa. Đó là giải thích bản chất của từng ân
huệ. C̣n khi bàn về vai tṛ của chúng, th́ thánh Tôma Aquinô cho rằng b́nh
thường chúng ta thực hành điều tốt nhờ các nhân đức; các ân huệ của Chúa
Thánh Thần tăng cường sức lực để chúng ta thực hiện các nhân đức “cách anh
hùng”, điển h́nh như trường hợp mà Giáo hội đ̣i hỏi nơi hồ sơ phong thánh.
Dù sao, đây là lối giải thích của thánh Tôma Aquinô về sự cần thiết của bảy
ân huệ Chúa Thánh Linh. Trên thực tế, Chúa Thánh Thần ban các ân huệ cho tất
cả mọi tín hữu chứ không riêng ǵ cho các vị thánh. Duy có điều là các vị
thánh ngoan ngoăn để cho Thánh Thần dẫn dắt, c̣n chúng ta th́ làm ngơ giả
điếc, không đếm xỉa đến tiếng thôi thúc của Thánh Thần tiến đến sự trọn
lành.
Bảy ơn Chúa Thánh Thần có khác với các đặc sủng Thánh Linh không?
Xét về từ ngữ th́ không có ǵ khác. “Ơn Chúa Thánh Thần” và “đặc sủng Thánh
Linh” đều là những ơn ban (hồng ân, tặng phẩm) của Ngôi Ba Thiên Chúa. Nhưng
xét về mục tiêu, th́ các nhà thần học Trung cổ đă phân chia ra thành hai
nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm bảy linh ân như vừa nói, mục tiêu là giúp các
tín hữu nên thánh. Nhóm thứ hai gồm những ân huệ mà Thánh Linh ban cho các
tín hữu nhằm giúp ích cho cộng đoàn Giáo hội. Đạo lư này dựa theo giáo huấn
của thánh Phaolô. Khi viết thư cho các cộng đoàn, thánh tông đồ nhận thấy
Thánh Linh đă ban cho các tín hữu rất nhiều ân huệ: những ân huệ này mang
tính cách đa dạng, không phải ai ai cũng lănh được (nghĩa là người có người
không), và có người lănh được ơn này nhưng không nhận được ơn kia (nghĩa là
không đồng đều). Không nói ai cũng đoán được, chuyện ghen tương phân b́
đương nhiên xảy ra: kẻ không có th́ ghen tị với kẻ có; người có th́ vênh váo
tự phụ với người không có; giữa hai người đều có th́ tranh chấp với nhau,
xem ai trọng hơn ai. Trong bối cảnh đó, thánh Phaolô đă giải thích về vai
tṛ của các đặc sủng thế này: Chúa Thánh Thần không phân phát đồng đều các
ân huệ cho mỗi người bởi v́ mục tiêu của chúng không phải là để tôn vinh cá
nhân, nhưng là để xây dựng cộng đoàn. Cộng đoàn được ví như một thân thể,
với nhiều bộ phận, cơ quan, chức năng khác nhau. Tất cả mọi bộ phận đều quan
trọng cho sự hoạt động của thân thể: mắt cần đến chân tay, đầu cần đến trái
tim, vv. Không cơ quan nào có quyền lên mặt tự đắc, khinh chê các bộ phận
khác, bởi v́ nhiều khi chính những cơ quan bé nhỏ tế nhị nhất lại là cơ quan
sinh tử.
Có bao nhiêu đặc sủng tất cả?
Thánh Phaolô đă liệt kê bốn danh sách các đặc sủng: hai danh sách ở chương
12 của thư thứ nhất gửi Côrintô, câu 8 đến câu 10, và câu 28 đến câu 30.
Danh sách thứ ba ở thư gửi Rôma chương 12 câu 6. Danh sách thứ bốn ở thư gửi
Êphêsô chương 4 câu 11. Trong bốn danh sách, người ta thấy có những đặc sủng
trùng hợp với nhau, nhưng cũng có nhiều dị biệt. Từ đó, ta có thể nhận xét
rằng không thể nào làm bản thống kê toàn thể các đặc sủng được. Con số các
đặc sủng không bị giới hạn, và được Chúa Thánh Thần ban phát cho Giáo hội
tuỳ theo nhu cầu mỗi nơi mỗi thời.
Có dấu hiệu nào nhận biết rằng ḿnh đă nhận được một đặc sủng không?
Tùy chúng ta hiểu đặc sủng theo nghĩa nào, mà ta đánh giá về sự hiện hữu của
nó. Có người hiểu đặc sủng theo nghĩa là ân huệ khác thường, chẳng hạn như:
chữa bệnh, nói ngôn ngữ lạ, nói tiên tri; theo nghĩa này đặc sủng hiếm lắm.
Người khác th́ hiểu đặc sủng theo nghĩa b́nh thường, chẳng hạn như ơn phục
vụ, ơn an ủi; theo nghĩa này, số người lănh đặc sủng lên cao hơn. Dù sao,
các nhà tu đức đă lưu ư hai điểm sau đây: thứ nhất, các đặc sủng này được
ban nhằm xây dựng cộng đoàn, chứ không phải để khoe khoang vênh váo; v́ thế
đừng ai sử dụng đặc sủng để t́m cầu danh lợi cá nhân. Thứ hai, người nhận
đặc sủng chưa chắc đă là người thánh thiện; v́ thế Chúa Giêsu đă cảnh cáo
rằng vào ngày phán xét, có người tự hào rằng ḿnh đă nói tiên tri, trừ quỷ,
làm phép lạ nhân danh Chúa, nhưng họ sẽ nghe tiếng đáp lại: “Ta không biết
các ngươi” (Mt 7,23). Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Côrintô rằng hăy ước
ao đặc sủng cao quư nhất, đó là đức ái.
Ngoài 7 ân huệ và các đặc sủng, Chúa Thánh Thần c̣n ban những ơn nào nữa
không?
Chúng ta không thể nào thiết lập danh sách kiểm kê các hoạt động của Chúa
Thánh Thần. Tôi chỉ muốn thêm một điều là ngoài 7 ân huệ (nhằm giúp các tín
hữu nên thánh) và các đặc sủng (nhằm xây dựng cộng đoàn), các nhà thần học
c̣n nói đến 12
hoa trái của Thánh Linh, dựa
theo đoạn văn Gl 5,22-23, được sách Giáo lư công giáo trích dẫn ở số 1832,
đó là: “bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hoà,
khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ, thanh khiết”.
Lm. Giuse Phan Tấn Thành